chiều hôm nhớ nhà ( lục bát ) Tác giả: Bà Huyện Thanh Quan & Quốc Hưng Nguyên Cao. Ác tà vàng toả non tây. Đầm đầm ngọn cỏ tuyết dầy phun hoa. Chim bay về tổ phương xa. Ngàn mai dặm liễu nhớ nhà bâng khuâng. Mục đồng còi thổi gác trăng. Chài ngư tung gió lâng lâng bãi bình. Văn mẫu lớp 7: Vẻ đẹp cổ điển trong bài thơ Qua Đèo Ngang và Chiều hôm nhớ nhà của Bà Huyện Thanh Quan dưới đây được VnDoc.com tổng hợp và sưu tầm gồm các bài văn mẫu lớp 7 hay cho các em học sinh tham khảo, củng cố kỹ năng cần thiết cho bài kiểm tra môn Ngữ văn 7 sắp tới đây của mình. 3. Trần Trung Viên, Văn đàn bảo giám, NXB Văn học, 2004. Bài thơ “Chiều Hôm Nhớ Nhà” trong nhiều tác phẩm thơ ca, tập thơ của Bà Huyện Thanh Quan. Thuộc danh mục thơ Nguyễn Thị Hinh một trong những Nhà Thơ Việt Nam Vĩ Đại Và Tiêu Biểu. Hãy cùng đọc và thưởng thức nhiều Văn mẫu lớp 7: So sánh bài thơ Thiên trường vãn vọng (Trần Nhân Tông) với bài Chiều hôm nhớ nhà (Bà Huyện Thanh Quan) dưới đây được VnDoc.com tổng hợp và sưu tầm gồm các bài văn mẫu lớp 7 hay cho các em học sinh tham khảo, củng cố kỹ năng cần thiết cho bài kiểm tra môn Ngữ văn 7 sắp tới đây của mình. Bài Chiều hôm nhớ nhà là như vậy. Nhan đề bài thơ có nơi chép là Cảnh chiều hôm rõ là không sát. Ông Hư Chu và ông Quách Tấn chê nhan để Chiều hôm nhớ nhà cũng không sát, vì theo ông Quách Tấn hai chủ đề của bài thơ là 'giữa đường xa' và 'ngày sắp hết' (Thi pháp thơ Bài "Chiều hôm nhớ nhà" mình đọc lâu rồi nên không nhớ ai dịch, nhưng câu 8 có một dị bản khác có vẻ hợp lý hợp tình hơn được viết như vầy: "Mấy kẻ tình chung có thấu là" Nó vừa là câu cảm thán vừa là câu hỏi tu từ, hợp với giọng thơ của bà huyện Thanh Quan như thường thấy hơn là câu hỏi thẳng Q165wZ. Chiều Hôm Nhớ Nhà Bà Huyện Thanh Quan Vàng toả non tây, bóng ác tà, Đầm đầm ngọn cỏ, tuyết phun hoa. Ngàn mai lác đác, chim về tổ, Dặm liễu bâng khuâng, khách nhớ nhà. Còi mục thét trăng miền khoáng dã, Chài ngư tung gió bãi bình sa. Lòng quê một bước nhường ngao ngán, Mấy kẻ tình chung có thấu là? Tiêu đề trong Văn đàn bảo giám chép là Nhớ nhà. Nguồn 1. Dương Quảng Hàm, Việt Nam thi văn hợp tuyển, Bộ Quốc gia Giáo dục xuất bản, Hà Nội, 1951 2. Nguyễn Tường Phượng, Phan Văn Sách, Bùi Hữu Sủng, Việt văn diễn giảng hậu bán thế kỷ thứ XIX, Trường Nguyễn Khuyến xuất bản, Hà Nội, 1953 3. Trần Trung Viên, Văn đàn bảo giám, NXB Văn học, 2004 Bài thơ “Chiều Hôm Nhớ Nhà” trong nhiều tác phẩm thơ ca, tập thơ của Bà Huyện Thanh Quan. Thuộc danh mục thơ Nguyễn Thị Hinh một trong những Nhà Thơ Việt Nam Vĩ Đại Và Tiêu Biểu. Hãy cùng đọc và thưởng thức nhiều tác phẩm thơ ca khác, có rất nhiều bài thơ hay đang chờ các bạn! Bài văn mẫu lớp 11Những bài văn mẫu hay lớp 11Văn mẫu lớp 11 Phân tích bài ”Chiều hôm nhớ nhà” của Bà Huyện Thanh Quan được VnDoc sưu tầm và giới thiệu giúp các em học sinh cùng quý thầy cô tham khảo, củng cố kỹ năng cho bài kiểm tra viết sắp tới đây của mình. Mời các em học sinh cùng tham tích bài ”Chiều hôm nhớ nhà” của Bà Huyện Thanh QuanAi đã từng đọc "Truyện Kiều" chắc không thể nào quên được câu thơ của Nguyễn Du nói về hoàng hôn“Song sa vò võ phương trời,Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng".Cũng nói về hoàng hôn và nỗi buồn của kẻ tha hương, bài thơ "Chiều hôm nhớ nhà" của Bà Huyện Thanh Quan là một kiệt tác của nền thơ Nôm Việt Nam trong thế kỉ XIX"Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn,Tiếng ốc xa đưa vẳng trống mái, ngư ông về viễn phố,Gõ sừng, mục tử lại cô mai gió cuốn chim bay mỏi,Dặm liễu sương sa khách bước chốn Chương Đài, người lữ thứ,Lấy ai mà kể nổi hàn ôn?".Câu thơ đầu tả ánh hoàng hôn một buổi chiều viễn xứ. Hai chữ "bảng lảng" có giá trị tạo hình đặc sắc ánh sáng lờ mờ lúc sắp tối, mơ hồ gần xa, tạo cho bức tranh một buổi chiều thấm buồn"Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn".Hai chữ "bảng lảng" là nhãn tự - như con mắt của câu thơ. Nguyễn Du cũng có lần viết 'Trời tây bảng lảng bóng vàng" Truyện Kiều.Chỉ qua một vần thơ, một câu thơ, một chữ thôi, người đọc cũng cảm nhận được ngòi bút thơ vô cùng điêu luyện của Bà Huyện Thanh với người đi xa, khoảnh khắc hoàng hôn, buồn sao kể hết được? Nỗi buồn ấy lại được nhân lên khi tiếng ốc tù và cùng tiếng trống đồn "xa đưa vẳng" lại. Chiều dài tiếng ốc, chiều cao tiếng trống đồn trên chòi cao của không gian được diễn tả qua các hợp âm ấy, đã gieo vào lòng người lữ khách một nỗi buồn lê thê, một niềm sầu thương tê tái. Câu thơ vừa có ánh sáng bảng lảng vừa có âm thanh tiếng ốc, trống dồn tạo cho cảnh hoàng hôn miền đất lạ mang màu sắc dân dã"Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn,Tiếng ốc xa đưa vẳng trống dồn".Phần thực và phần luận, các thi liệu làm nên cốt cách bài thơ được chọn lựa tinh tế, biểu đạt một hồn thơ giàu cảm xúc. Ngư ông, mục tử, lữ khách... thế giới con người được nói đến. Cảnh vật thì có ngàn mai, có gió và sương, có "chim bay mỏi" ... Những thi liệu ấy mang tính chất ước lệ của thi pháp cổ người thì có ngư, tiều, cảnh vật, cây cỏ, hoa lá thì có phong, sương, mai, liễu, cánh chim chiều... nhưng với tài sáng tạo vô song chọn từ, tạo hình ảnh, đối câu, đối từ, đối thanh, ở phương diện nào, nữ sĩ cũng tỏ rõ một hồn thơ tài hoa, một ngòi bút trang trọng. Vì thế, cảnh vật trở nên có hồn, gần gũi, thân thuộc mang đậm bản sắc dân tà, ngư ông cùng con thuyền nhẹ trôi theo dòng sông về viễn phố bến xa với tâm trạng nhàn hạ, thoải mái. Động từ "gác mái" biểu đạt một tâm thế yên vui của ngư ông đang sống nơi miền quê yên ả, không bị ràng buộc bởi vòng danh lợi"Gác mái, ngư ông về viễn phố".Cùng lúc đó, lũ trẻ đánh trâu về chuồng, trở lại "cô thôn". Cử chỉ "gõ sừng" của mục đồng thể hiện sự hồn nhiên, vô tư, yêu đời"Gõ sừng, mục tử lại cô thôn".Đó là hai nét vẽ vẻ con người tạo nên hai bức tranh tuyệt đẹp nơi thôn dã vô cùng thân thuộc đáng câu luận tiếp theo đã mượn cảnh để tả cái lạnh lẽo, cô liêu, bơ vơ của người lữ khách trên nẻo đường tha hương. Trời sắp tối. Ngàn mai xào xạc trong "gió cuốn" gió mỗi lúc một mạnh. Cánh chim mỏi bay gấp gấp về rừng tìm tổ. Sương sa mịt mù dặm liễu. Và trên con đường sương gió, lạnh lẽo ấy chỉ có một người lữ khách, một mình một bóng đang "bước dồn" tìm nơi nghỉ trọ. Hai hình ảnh "chim bay mỏi" và "khách bước dồn" là hai nét vẽ đăng đối, đặc tả sự mỏi mệt, cô đơn. Con người như bơ vơ, lạc lõng giữa "gió cuốn" và "sương sa", đang sống trong khoảnh khắc sầu cảm, buồn thương ghê gớm. Câu thơ để lại nhiều ám ảnh trong lòng người đọc. Nghệ thuật đảo ngữ làm nổi bật cái bao la của nẻo đường xa miền đất lạ"Ngàn mai, gió cuốn chim bay mỏi,Dặm liễu, sương sa khách bước dồn".Bằng sự trải nghiệm của cuộc đời, đã sống những khoảnh khắc hoàng hôn ở nơi đất khách quê người, nữ sĩ mới viết được những câu thơ tả thực cảnh ngộ lẻ loi của kẻ tha hương có hồn đến thế!Hai câu kết hội tụ, dồn nén lại tình thương nhớ. Nữ sĩ cảm thấy cô đơn hơn bao giờ hết. Câu thứ bảy gồm hai vế tiểu đối, lời thơ cân xứng đẹp "Kẻ chốn Chương Đài// người lữ thứ. Chương Đài là điển tích nói về chuyện li biệt, nhớ thương, tan hợp của lứa đôi Hàn Hoành và Liễu thị đời nhà Hán xa xưa. Bà Huyện Thanh Quan đã vận dụng điển tích ấy một cách sáng tạo. "Chương Đài" và "lữ thứ' trong văn cảnh gợi ra một trường liên tưởng về nỗi buồn li biệt của khách đi xa nhớ nhà, nhớ quê hương da diết. Khép lại bài thơ là một tiếng than giãi bày một niềm tâm sự được diễn tả dưới hình thức câu hỏi tu từ. "Ai" là đại từ phiếm chỉ, nhưng ai cũng biết đó là chồng, con, những người thân thương của nữ sĩ. "Hàn ôn" là nóng lạnh; "nỗi hàn ôn" là nổi niềm tâm sự. Người lữ thứ trong chiều tha hương ấy thấy mình bơ vơ nơi xa xôi, nỗi buồn thương không sao kể xiết"Kẽ chốn Chương Đài, người lữ thứ,Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn?"."Chiều hôm nhớ nhà" và "Qua Đèo Ngang" hai kiệt tác thơ thất ngôn bát cú Đường luật. Đó là chùm thơ của Bà Huyện Thanh Quan sáng tác trong những tháng ngày nữ sĩ trên đường thiên lí vào Kinh đô Huế nhận chức nữ quan trong triều Nguyễn. Có thể coi đó là những bút kí bằng thơ vô cùng độc đáo. Thơ của Bà Huyện Thanh Quan thấm một nỗi buồn li biệt hoặc hoài cổ, hay nói đến hoàng hôn, lời thơ trang nhã, sử dụng nhiều từ Hán-Việt bảng lảng, hoàng hôn, ngư ông, viễn phố... tạo nên phong cách trang trọng, cổ kính, nhạc điệu trầm bổng hấp dẫn. "Chiều hôm nhớ nhà" là một bông hoa nghệ thuật chứa chan tình thương nhớ, bâng khuâng....-Trên đây VnDoc hướng dẫn các bạn học tốt bài Văn mẫu lớp 11 Phân tích bài ”Chiều hôm nhớ nhà” của Bà Huyện Thanh Quan. Chắc hẳn qua bài viết bạn đọc đã nắm được những ý chính cũng như trau dồi được nội dung kiến thức của bài viết rồi đúng không ạ? Bài viết đã gửi tới bạn đọc dàn ý và các bài văn mẫu. Hi vọng qua bài viết này bạn đọc có thêm nhiều tài liệu để học tập tốt hơn nhé. Ngoài ra các bạn có thể soạn bài Ngữ văn 11 được VnDoc sưu tầm, chọn lọc để học tốt môn Ngữ văn tiếp theo Một số thanh niên hiện nay vẫn cho rằng “Chỉ có tiền tài và địa vị thì mới có hạnh phúc”. Hãy dùng lập luận bác bỏ để phản bác tư tưởng đóHãy bàn luận ý kiến sau đây “Học trò phải kính yêu và biết ơn thầy, cô giáo"Nhiều ý kiến cho rằng chữ “hồng” là nhãn tự bài thơ Mộ Chiều tối của Hồ Chí Minh Bộ đề Đọc hiểu Chiều hôm nhớ nhàChiều hôm nhớ nhà đọc hiểu - Chiều hôm nhớ nhà là một tuyệt phẩm của bà Huyện Thanh Quan Nguyễn Thị Hinh mang một nỗi buồn li biệt hoặc hoài cổ. Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật sử dụng nhiều từ Hán Việt tạo nên phong cách trang trọng, cổ kính. Trong bài viết này Hoatieu xin chia sẻ tổng hợp bộ đề đọc hiểu văn bản Chiều hôm nhớ nhà của bà Huyện Thanh Quan, mời các bạn cùng tham các bạn cùng tham gia group Bạn Đã Học Bài Chưa? để cập nhật các kiến thức mới bổ ích về học tập cùng với Hoatieu bài Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ trang 64Đọc hiểu Chiều hôm nhớ nhà - mẫu 1Đọc bài thơ sau và trả lời câu hỏiChiều trời bảng lảng bóng hoàng hônTiếng ốc xa đưa vẳng trống mái ngư ông về viễn phốGõ sừng mục tử lại cô thônNgàn mai gió cuốn chim bay mỏiDặm liễu sương sa khách bước chốn Chương Đài, người lữ thứLấy ai mà kể nỗi hàn ôn.Chiều hôm nhớ nhà - Bà Huyện Thanh QuanCâu 1 Xác định thể thơ và phương thức biểu đạt của văn bản trên?Câu 2 Xác định các từ hán việt, từ láy và từ ghép trong các câu thơ sau trong đoạn tríchChiều trời bảng lảng bóng hoàng hônTiếng ốc xa đưa vẳng trống mái ngư ông về viễn phốGõ sừng mục tử lại cô thônCâu 3 Đọc bài thơ em hiểu tâm trạng gì của Bà Huyện Thanh Quan?Trả lờiCâu 1- Thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật- Phương thức biểu đạt Biểu cảm kết hợp miêu tảCâu 2- Từ Hán Việtngư ông,hoàng hôn,hàn ôn,mục tử, lữ thứ- Từ ghépcổ thôn- Từ láy bảng lảngCâu 3Em hiểu tâm trạng của bà Huyện Thanh Quan Đó là một tâm trạng buồn lê thê, một niềm sầu thương tê tái của khách đi xa nhớ nhà, nhớ quê hương da diết. Bài thơ chính là một niềm tâm sự,được giãy bày khi đi tới vùng đất lạ của tác hiểu Chiều hôm nhớ nhà - mẫu 2Đọc đoạn thơ sau và thực hiện yêu cầu“Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hônTiếng ốc xa đưa vẳng trống dồnGác mái ngư ông về viễn phốGõ sừng mục tử lại cô thôn”Chiều hôm nhớ nhà – Bà Huyện Thanh Quan.Câu 1 Đọc đoạn thơ trên gợi cho em nhớ tới bài thơ nào cũng của Bà Huyện Thanh Quan? Hãy chép chính xác bài thơ và cho biết hoàn cảnh sáng tác bài thơ em vừa 2 Hãy tìm đại từ trong bài thơ em vừa chép và phân loại đại từ đó?Câu 3 Nêu tác dụng của từ láy được dùng trong hai câu thơ sau“Lom khom dưới núi tiều vài chúLác đác bên sông chợ mấy nhà”Câu 4 Từ bức tranh thiên nhiên trong bài thơ em tìm được ở câu 1, hãy viết đoạn văn 8-10 câu nêu cảm nghĩ của em về tình yêu quê hương đất nước , từ đó cho biết em cần làm gì để bồi dưỡng tình yêu quê hương. Trong đoạn văn có sử dụng một cặp từ đồng nghĩa và trái nghĩa gạch chân, chú thích.Trả lờiCâu 1Đọc đoạn thơ trên gợi cho em nhớ tới bài thơ Qua đèo tới Đèo Ngang, bóng xế tà,Cỏ cây chen đá, lá chen khom dưới núi, tiều vài chú,Lác đác bên sông, chợ mấy nước đau lòng con quốc quốc,Thương nhà mỏi miệng cái gia chân đứng lại trời, non, nước,Một mảnh tình riêng ta với ta→ Hoàn cảnh sáng tác khi bà được mời vào kinh đô Huế giữ chức Cung Trung giáo tập để dạy học cho công chúa và cung 2Đại từ ta dùng để xưng hôTuy nhiên chữ ta cuối cùng với vẫn là dùng để xưng 3Giúp câu thơ có vần, có nhịp điệu, đồng thời tạo ra khung cảnh hẻo lánh, cô đơn .Câu 4Ngay từ khi sinh ra, ai cũng có cho mình một quê hương. Cho dù quê hương ấy có lớn hay nhỏ, trù phú hay nghèo nàn thì trong chúng ta vẫn luôn ghi nhớ, khắc sâu trong tim hình ảnh quê hương thân thuộc ấy. Bởi quê hương chính là nơi gắn bó với chúng ta suốt một thời thơ ấu là nơi nuôi chúng ta lớn từ những hạt gạo ngọt thơm, củ khoai thơm phức. Rồi cũng tại quê hương, ta có nhiều kỉ niệm thân thương. Đó là kỉ niệm cùng lũ bạn chăn trâu, hát hoa trong buổi chiều cùng tiếng sáo vi vu, hay được chứng kiến cảnh cả đồng lúa một màu vàng tươi thật đẹp, hay mỗi khi Tết đến, cả xóm lại tụ họp một nơi cùng nhau làm bánh chưng để ăn. Chao ôi! Cái mùi thơm của của lá cùng với mùi tiêu và mùi thịt lợn luôn khiến cho ta cảm thấy thèm như vậy, quê hương đã gắn bó với ta không biết qua bao cái Tết. Nhưng rồi khi ta lớn lên, trưởng thành, ta sẽ có cuộc sống riêng ở nơi thành thị ồn ào. Những lo âu, suy tư cứ bủa vây ta khiến ta mệt mỏi. Lúc đó, ta thật muốn về với quê mẹ, trải nghiệm những thứ mà hồi bé ta hay làm. Quê hương thật có ý nghĩa. Ta nên biết yêu quê hương, đừng ghét quê hương. Bởi nếu không có quê hương thì ta sẽ không có được những kỉ niệm tốt, tuyệt vời...Từ trái nghĩa yêu, hiểu Chiều hôm nhớ nhà - mẫu 3Đọc bài thơ sau và trả lời câu hỏiChiều hôm nhớ nhàChiều trời bảng lảng bóng hoàng hônTiếng ốc xa đưa vẳng trống mái ngư ông về viễn phốGõ sừng mục tử lại cô thônNgàn mai gió cuốn chim bay mỏiDặm liễu sương sa khách bước chốn Chương Đài, người lữ thứLấy ai mà kể nỗi hàn ôn.Bà Huyện Thanh QuanCâu 1 Hãy giải thích nghĩa của các từ in 2 Các từ Hán Việt tạo sắc thái gì cho bài lờiCâu 1 Nghĩa hoàng hôn, ngư ông, mục tử, lữ thứ, hàn ôn+ Hoàng hôn là khoảng thời gian sau khi Mặt Trời lặn cho đến khi trời tối hẳn.+ Ngư ông là người đánh cá hay bắt cá hay câu cá.+ Mục tử là người chăn nuôi động vật.+ Lữ thứ chỗ để tạm nghỉ lại của người đi đường xa.+ Hàn ôn là nỗi lạnh ấm, tương tự như là kể chuyện vui, chuyện buồn, nói chuyện 2 Các từ Hán Việt tạo sắc thái tạo sắc thái trang trọng, tao nhã, tinh tế, tạo ra sắc thái cổ, phù hợp với xã hội xưa. Ngày đăng 27/07/2014, 0920 Về bài thơ "Chiều hôm nhớ nhà" của bà Huyện Thanh Quan Trong nền văn học Việt Nam trung đại, số nữ sĩ còn đứng lại với thời gian không phải là nhiều. Chúng ta thường nhắc đến 3 gương mặt tiêu biểu là Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương và Bà huyện Thanh Quan. Ba nữ sĩ này, mỗi người một vẻ, mỗi người có một đóng góp riêng cho thơ văn nước nhà. Trong 3 nữ sĩ đó, Bà huyện Thanh Quan khiêm nhường đứng riêng một chiếu với chùm thơ khoảng 5 - 6 bài có bài vẫn còn gây tranh cãi, bị xem là của nhà thơ khác trong đó thường được nhắc đến hơn cả là bài thơ Chiều hôm nhớ nhà. Bài thơ Nôm Đường luật này diễn tả nỗi nhớ nhà của người nữ sĩ khi cô đơn thân gái dặm trường Trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn Tiếng ốc xa đưa vẳng trống đồn Gác mái ngư ông về viễn phố Gõ sừng mục tử lại cô thôn Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi Dặm liễu sương sa khách bước dồn Kẻ chốn Chương Đài người lữ thứ Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn? Bài thơ đưa chúng ta vào một không - thời gian tưởng như cụ thể nhưng lại khá mơ hồ. Thời điểm “trời chiều” được cụ thể hoá trong sự “bảng lảng” của “bóng hoàng hôn” mang đến cho ta một buổi chiều như bao buổi chiều khác trong thơ ca xưa. Có nỗi nhớ của người con xa quê Chiều chiều ra đứng ngõ sau Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều Ca dao Buồn trông cửa bề chiều hôm Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa Truyện Kiều Câu phá đề gợi cho ta một cảm giác mệt mỏi và chậm rãi của thời gian ban chiều, một thời điểm mang tính ám ảnh văn hoá trong thơ xưa. Câu thơ bắt đầu bằng “trời chiều” và khép lại bằng “bóng hoàng hôn” như muốn hắt cả ánh vàng của nắng chiều lên con người và cảnh vật. Thời điểm chiều hôm là lúc con người trở về sum họp, quây quần cùng gia đình nhưng dường như nhân vật trữ tình trong bài thơ vẫn tạm nghỉ chân trên hành trình xa xôi và vắng vẻ. Ở không gian đó con người có thể nghe thấy “tiếng ốc xa đưa” và tiếng “vẳng trống đồn”. Những âm thanh này vốn không xa lạ nhưng khi đặt vào khung cảnh đất khách quê người thì lại gợi lên sự bâng khuâng, se buồn trong lòng người lữ khách. Hai âm thanh đan quyện vào nhau như muốn báo hiệu sự vội vã của thời gian đang đổ dần về tối. Thời điểm “trời chiều” cùng sự báo hiệu của tiếng ốc và tiếng trống sẽ làm nền cho hai câu thực Gác mái ngư ông về viễn phố Gõ sừng mục tử lại cô thôn Đến hai câu thơ này ta mới thấy hiện ra một cách rõ nét hơn những mã nghệ thuật của thơ ca nhà nho xưa dù Nguyễn Thị Hinh có là một nữ sĩ nhưng khi sáng tác bà vẫn chịu ảnh hưởng của quan niệm văn học Nho gia. Xuân Diệu đã từng gọi bà là “Bà chúa hoàng hôn”. Đọc hai câu thực chúng ta sẽ cảm nhận rõ hơn lời khen ngợi của “nhà thơ mới nhất trong phong trào Thơ mới”. Vẫn là hình tượng quen thuộc của ngư ông và mục tử trong bộ tứ “ngư - tiều - canh - mục” trong thơ xưa, vẫn là động tác “gác mái”, “gõ sừng” ấy gắn liền với hai biểu tượng này. Nó nhắc ta nhớ tới những câu thơ như Ngư lão buông câu ngồi mép bến Mục đồng té nước tắm đầu sông hay Viễn tự chung thanh thôi khách bộ Mục đồng xung địch dẫn ngưu qui Nhà nho xưa quan niệm giống nhau về một cuộc sống thanh sạch gắn với nông thôn và thiên nhiên trong các nghề ngư - tiều - canh - mục. Đó là những hình ảnh đẹp mãi có sức cuốn hút đối với họ. Nó mang âm hưởng từ những vần thơ từ xa lắm, tận thời Đường ở bên Tàu với những Cô chu soa lạp ông Độc điếu hàn giang tuyết Liễu Tông Nguyên hay Tá vấn tửu gia hà xứ hữu Mục đồng dao chỉ Hạnh Hoa thôn Đỗ Mục Tuy nhiên giữa mảng lưới văn hoá đầy hình tượng, điển tích đó cái còn lại của Thanh Quan là gì? Đó có phải là cách dùng những từ Hán Việt “ngư ông”, “viễn phố”, “mục đồng”, “cô thôn” tạo cho bài thơ sự trang trọng và cổ kính đầy hấp dẫn? Điều này chỉ đúng một phần. Cái còn lại của dòng thơ, dấu ấn của Thanh Quan chính là ở hai tiếng “cô”, “viễn” tưởng như vô tình nhà thơ đặt theo niêm luật đăng đối ở tiếng thứ 6 của hai câu thực. Nhà thơ đâu có biết “ngư ông” và “mục tử” nghĩ gì và cũng đâu có biết họ đi về đâu. Với cái nhìn đầy màu sắc chủ quan, nhân vật trữ tình đã phổ cảm xúc của mình vào hai hình tượng đó. Con người lẻ loi trên hành trình thiên lý tự dưng lại cảm nhận về cảnh vật quanh mình như cảm nhận về thân phận của mình, thấy chúng cũng trở nên “cô”, “viễn” như thường. Chúng ta lại nhớ tới cảm xúc của người chinh phụ cô đơn ngồi trong đêm vắng tủi buồn với cả trăng - hoa vô tri, vô giác Hoa giãi nguyệt nguyệt in một tấm Nguyệt lồng hoa hoa thắm từng bông Nguyệt hoa hoa nguyệt trùng trùng Trước hoa dưới nguyệt trong lòng xiết đau. Dấu ấn chủ quan của nhân vật trữ tình thoáng hiện ra rồi lại chìm khuất đi giữa mịt mù thiên nhiên Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi Dặm liễu sương sa khách bước dồn Sự tương phản trong bức tranh thơ gợi lên mộtchút gì nhỏ nhoi mà yếu đuối của cánh chim và hình ảnh người khách giữa chiều tà. Vẫn là “ngàn mai” ấy, ngàn mai từng nở trắng trong thơ xưa Tuyết mai trắng bãi, phù dung đỏ bờ - Chinh phụ ngâm nhưng đặt cạnh hình ảnh “gió cuốn” đã gợi lên sự rộng lớn của không gian như muốn nuốt chìm cánh chim nhỏ nhoi vào trong đó, như cánh “chim hôm thoi thót về rừng” trong Truyện Kiều và xa hơn nữa là hình ảnh Chúng điểu cao phi tận Cô vân độc khứ nhàn trong thơ Lí Bạch xưa. Con người luôn thấy nhỏ bé trước thiên nhiên. Đứng trước thiên nhiên, người xưa muốn mình là một tiểu vũ trụ cố gắng hoà hợp và cả hoà tan vào trong đại khối, đại vũ trụ vô cùng đang bao bọc quanh mình. Người “khách” đang “bước dồn” qua “dặm liễu” kia liệu lòng có còn thôi ám ảnh về Tóc ai trao chửa bạc màu Liễu ai bẻ tặng bên cầu còn tươi Nguyễn Bính hay điển tích “Bá kiều chiết liễu” cùng hình ảnh “Hoa dương sầu sát độ giang nhân” Trịnh Cốc hay kí ức về Sông Tần một dải xanh xanh Loi thoi bờ liễu mấy cành Dương quan ở chốn quê nhà, nơi ly biệt, lưu luyến người thân mà “Tiễn đưa một chén quan hà - Xuân đình thoắt đã dạo ra Cao đình” Truyện Kiều. Con người - nhân vật trữ tình hay là một dạng phân thân của hình tượng này “khách” - như muốn giấu mình đi. Đó là đặc trưng phi ngã, vô ngã của thơ ca trung đại. Con người không xuất hiện trong vai trò cá nhân. Nó chỉ thể hiện mình trong các mối quan hệ cộng đồng, làng xóm, họ mạc, gia đình. Con người có khi là “khách” trên chính quê hương mình như trong thơ Hạ Tri Chương Nhi đồng tương kiến bất tương thức Tiếu vấn Khách tòng hà xứ lai? hay trở thành “Càn khôn nhất hủ nho” hoặc “Giang Hán tư quy khách” trong thơ Đỗ Phủ. Sự đơn chiếc, cô lẻ đã thấm sâu trong nó một nỗi buồn khôn tả. Nhịp “bước dồn” chỉ là vẻ bề ngoài che đi nỗi lòng nặng trĩu ưu tư của nhân vật trữ tình. Tình cảm được dồn nén và bật ra thành câu hỏi Kẻ chốn Chương Đài người lữ thứ Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn? Thơ ca nhà nho xưa thường hướng tới các vấn đề thế sự, đạo lý, hay than thở về thế đạo nhân tâm, tránh nói đến tình cảm cá nhân riêng tư trong đời sống thường ngày. Tuy nhiên thơ ca nửa cuối thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX mang trong nó sắc thái chủ tình rõ rệt, chủ trương bày tỏ những cảm xúc vốn bị đạo đức Nho giáo chế ngự bấy lâu nay. Có lẽ tiếng nói tiền khu mang tính tiên phong của Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm, Truyện Kiều, thơ Hồ Xuân Hương đã là tiền đề cho hai câu kết này. Qua điển tích “Chương Đài” cùng cặp đại từ nhân xưng “người - kẻ” chúng ta có thể thấy người mà nhân vật trữ tình hướng tới là nửa kia của mình. Câu chuyện về bài thơ “Chương Đài liễu, Chương Đài liễu - Tích nhật thanh thanh kim tại phủ? - Túng sử trường điều tự cựu thuỳ - Giả ưng phan chiết tha nhân thủ” còn đó như minh chứng cho khao khát đoàn viên, sống trong hạnh phúc lứa đôi của người lữ thứ. Chính vì cảnh lữ thứ mà khát khao mong gặp người chia sẻ, “kể nỗi hàn ôn” càng da diết hơn. Nhu cầu sẻ chia đó vẫn thường trực trong mỗi con người tự ngàn xưa. Bài thơ gói gọn trong thể Đường luật thất ngôn bát cú nhưng nó đã nói được tiếng lòng của người nữ sĩ. Cảm giác nhớ nhà của con người khi “Lòng còn gửi áng mây vàng” Truyện Kiều là điều dễ hiểu. Trong không gian tha hương thời trung đại, con người thấy lẻ loi, yếu đuối khi bị bứt ra khỏi không gian quê nhà quen thuộc nên chỉ ra khỏi nhà mười dặm đã có cảm giác “lữ thứ, hoàng hoa” là thế. Đó không chỉ là một mã nghệ thuật mà còn phản ánh một phần sự thực của tâm trạng con người. . chùm thơ khoảng 5 - 6 bài có bài vẫn còn gây tranh cãi, bị xem là của nhà thơ khác trong đó thường được nhắc đến hơn cả là bài thơ Chiều hôm nhớ nhà. Bài thơ Nôm Đường luật này diễn tả nỗi nhớ. Về bài thơ "Chiều hôm nhớ nhà" của bà Huyện Thanh Quan Trong nền văn học Việt Nam trung đại, số nữ sĩ còn đứng. Thị Điểm, Hồ Xuân Hương và Bà huyện Thanh Quan. Ba nữ sĩ này, mỗi người một vẻ, mỗi người có một đóng góp riêng cho thơ văn nước nhà. Trong 3 nữ sĩ đó, Bà huyện Thanh Quan khiêm nhường đứng riêng - Xem thêm -Xem thêm Về bài thơ "Chiều hôm nhớ nhà" của bà Huyện Thanh Quan doc, Về bài thơ "Chiều hôm nhớ nhà" của bà Huyện Thanh Quan doc,

bài thơ chiều hôm nhớ nhà